Chi tiết bài viết
Ngày đăng: 28/09/2020

Giai thoại Trạng nguyên Hoàng Văn Tán.

Vào cuối thời Lê Sơ (đầu thế kỷ XVI) ở làng Xuân Lôi, huyện Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Xuân Bình, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) có cậu bé tên là Hoàng Văn Tán gia cảnh tuy nghèo túng nhưng rất thông minh và giỏi đối đáp.

image001

Thầy đồ dạy học (ảnh minh họa)

Một hôm, mẹ Tán đi chợ ở làng Thị Cầu thấy đám rước “Vinh quy bái tổ” của một vị Tiến sĩ về làng Kim Đôi rất đông vui, trang trọng, lộng lẫy, bà ao ước con trai mình cũng được học hành đỗ đạt như vậy. Về nhà nhìn vào hoàn cảnh gia đình mình bà chỉ biết than thở rồi kể lại chuyện đó với người con trai. Cậu bé Tán bèn sà vào lòng mẹ và nói “như đinh đóng cột” rằng: con mà được đi học thời con sẽ đỗ cao hơn! Thấy Hoàng Văn Tán còn nhỏ tuổi mà ăn nói khảng khái khác thường, bà mẹ quyết tâm đưa con tìm thầy học chữ. Nghe tiếng thầy đồ làng Vị (nay thuộc làng Phương Vĩ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh) nổi tiếng hay chữ bà đưa Tán đến xin “nhập môn”, ngắm đi ngắm lại tướng mạo cậu bé rồi thầy đồ vui vẻ nhận lời.

Lớp học có hơn chục nho sinh nhưng thầy chưa cho Hoàng Văn Tán được học chữ ngay, cậu chỉ được giao làm những việc vặt như quét nhà, dọn dẹp, nước nôi, điếu đóm phục vụ lớp học. Cậu bé Tán chỉ đứng ở bên ngoài học lỏm, nhưng với năng khiếu trí thông minh bẩm sinh nên cậu “nhập tâm” và thuộc bài làu làu còn giỏi hơn các nho sinh ở trong lớp. Bỗng một hôm có cụ Chánh mang lễ và dẫn con trai đến nhập học. Nhìn lên mâm lễ lớn vừa đặt trên hương án, thầy đồ tức thì ra một vế đối có ý thử tài trò mới và các nho sinh. Vế đối đó là:

“Ruồi đỗ mâm xôi, mâm xôi đỗ”.

Vì thầy chơi chữ nên vế ra này rất khó đối, cả đám học trò ngơ ngác nhíu mày im lặng, thầy đồ lắc đầu hết hy vọng. Bất ngờ cậu bé Hoàng Văn Tán từ bếp chạy lên, tay vẫn sách siêu nước bốc hơi nghi ngút, cậu kính cẩn xin phép thầy được đối lại, thầy gật đầu bằng lòng. Cụ Chánh và đám nho sinh đứng ngây như phỗng nhìn cậu bé Tán với vẻ ngờ vực. Tán dõng dạc đọc:

“Kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò”.

Thầy đồ giật mình vì vế đối của Tán chữ và nghĩa rất chỉnh. Còn cánh nho sinh thì phục lắm! Từ hôm đó thầy cho cậu “nhập môn” chính thức. Với bản chất con nhà nghèo vốn cần cù chịu khó cộng với sự thông minh sẵn có học một biết mười, Hoàng Văn Tán miệt mài ngày đêm luyện bút, rèn văn dùi mài kinh sử. Năm sau nhà vua mở khoa thi lớp học thì đông, thầy đồ muốn chọn những môn sinh đã học lâu năm có nhiều học vấn, kinh nghiệm để lên kinh đô ứng thí, vì vậy Hoàng Văn Tán không được xếp trong diện đó. Khi chuẩn bị “lều chõng” lên đường đi thi thì trời nổi cơn mưa, thầy đồ muốn khảo thí các môn sinh lần cuối bèn ra một vế đối:

“Lác đác mưa sa làng Vị Vũ”.

(Vị Vũ tức làng Phương Vĩ, phường Vũ Ninh ngày nay – quê thầy đồ).

Một lần nữa cả môn trường im lặng, thầy trầm tư vẻ mặt không vui. Bỗng nhiên có tiếng xin thầy được đối vang lên từ phía sau, thầy ngoảnh lại chính là Hoàng Văn Tán nói, thấy vậy thầy vui vẻ đồng ý nhận lời, Tán đáp lại rằng:

“Ầm ầm sấm động đất Xuân Lôi”.

(Xuân Lôi là quê của Hoàng Văn Tán).

Tán vừa đọc dứt vế đối thì trên trời lóe chớp và tiếp theo là một tiếng sấm rất lớn. Thầy đồ sung sướng reo lên:

 Trạng nguyên của ta đây rồi!

Quả nhiên, khoa thi năm Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523)  đời vua Lê Cung Hoàng, Hoàng Văn Tán đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ nhất danh Trạng nguyên (khoa này lấy đỗ 36 người, trong đó có 3 Tiến sĩ cập đệ, 8 Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), 25 đồng Tiến sĩ xuất thân). Sau này ông được giao cùng với Đông các đại học sĩ Đạo nguyện Bá Nguyễn Văn Thái thảo tờ chiếu của vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi cho Mặc Đăng Dung và làm quan cho nhà Mạc tới chức Tả thị lang bộ Lễ.

Trong xã hội hiện đại ngày nay giáo dục nho học không còn tồn tại  nhưng tấm gương hiếu học của Trạng nguyên Hoàng Văn Tán vẫn là một điểm sáng cho con cháu hậu thế noi theo. Tên tuổi của ông gắn liền với truyền thống hiếu học khoa bảng của vùng đất Kinh Bắc văn hiến, nơi người đời vẫn truyền tụng câu ca: “một giỏ Sinh đồ, một bồ ông Cống, một đống Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhỡn”./.

                                                                            Nguyễn Văn An (Bảo tàng Bắc Ninh)