Chi tiết bài viết
Ngày đăng: 16/07/2019

TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT

Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những hiện tượng mang tính chất huyền bí trong thế giới siêu nhiên. Các hoạt động hướng tới những hiện tượng đó tạo nên văn hóa tâm linh, một lĩnh vực văn hóa tạo nên bản sắc của mỗi tộc người, mỗi cộng đồng.

Tín ngưỡng do tầng lớp bình dân tạo ra, từ thời tiền sử đã xuất hiện tín ngưỡng thờ vật tổ (còn gọi là tô tem giáo). Tôn giáo ra đời muộn hơn, do tầng lớp trí thức tạo nên. (Phật giáo có từ TK V trước công nguyên, Ki tô giáo ra đời vào năm Công nguyên, Hồi giáo có từ TK V sau công nguyên…). Tín ngưỡng là sự tin theo, niềm tin của con người trong tín ngưỡng mang nhiều yếu tố cảm tính. Tín ngưỡng không có hệ thống kinh sách, không có tổ chức, trong khi đó tôn giáo có hệ thống giáo lý kinh bổn, có tổ chức và thiết chế rất qui củ… Niềm tin của con người vào tôn giáo tuy có sắc thái cảm tính, nhưng mang nhiều yếu tố lý tính sâu sắc.

 Người Việt quan niệm vạn vật hữu linh. Từ thủa còn sơ khai, người ta thờ các hiện tượng tự nhiên như trời, đất, thờ động vật như hổ, trâu, cóc, chó, chim, cá, rắn…Thờ cả một số loài cây như: cây đa, cây gạo, cây cau, cây dâu…thậm chí một tảng đá, một gò đất ở giữa hồ ao…cũng được người Việt thờ, vì quan niệm đa thần: Thần cây đa, ma cây gạo.

Đối với cư dân nông nghiệp lúa nước như nước ta, thì việc cầu mong  mùa màng luôn được phong đăng, hòa cốc, cầu cho nhân khang, vật thịnh, cho cuộc sống sinh sôi, nảy nở, phát triển là khát vọng muôn đời của người Việt. Với mong muốn sinh sôi nảy nở, đơm hoa kết trái, đông con nhiều cháu, người ta thờ hoặc rước những biểu tượng sinh thực khí âm dương trong lễ hội, đúc những hình tượng người giao phối được đúc trên nắp thạp đồng Đào Thịnh, thờ và rước nõ – nường; Lin ga – Yoni của người Chăm…        Phải chăng đó là những biểu hiện âm dương với những ẩn ý là có âm có dương mùa màng mới sinh sôi nảy nở được?  Bởi thế cho nên mới có câu: Có nam có nữ mới nên xuân/ Có xôi có thịt mới nên phần.

Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người. Khi con người còn yếu đuối trước thiên nhiên người ta phải phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến tín ngưỡng đa thần. Người ta sùng bái nhiều hiện tượng tự nhiên: Trời, đất, nước, mây, mưa, sấm, chớp…Trời cao, đất dày là những đấng thiêng liêng đem đến cho con người sự sống. Bởi vậy người ta gọi bầu trời gọi là ông trời, bà trời; Đất thì gọi là bà địa, ông địa; Mọi người đều cho rằng đất có thổ công, sông có hà bá …do vậy trước khi triển khai công việc đào móng dựng nhà, đào đất mai táng người chết…người ta đều sắm sửa lễ vật để cúng bái. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu (thờ Mẹ), chúng ta thường thấy có ban thờ tam phủ, tứ phủ, Người Việt quan niệm trên bầu trời có một bà mẹ cai quản ở cõi trời; trên rừng núi có bà mẹ cai quản ở cõi sơn lâm; ở dưới sông biển lại cũng có một bà mẹ cai quản ở cõi nước. Vì vậy trong các ngôi đền thờ Mẫu thường gặp ban thờ tam phủ. Đó là Thánh mẫu Thượng thiên (bà mẹ cõi trời); Thánh mẫu Thượng ngàn (bà mẹ cõi rừng núi, sơn cước); Thánh mẫu Thoải (bà mẹ cõi nước). Ban thờ tứ phủ thì có thêm Thánh Mẫu Địa.

Cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu, người Việt còn thờ cúng bà Mẹ của dân tộc, đó là thánh Mẫu Âu Cơ, Thánh Mẫu mẹ Gióng, Thiên Y A Na của người Chăm…Ngoài ra còn thờ những vị anh hùng, tiết liệt đã có công với dân, với nước, chống giặc ngoại xâm như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyên Phi Ỷ Lan, Bà Đen, rồi Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn), thờ các vị vua, quan có công với nước… Theo các nhà nghiên cứu hiện nay trên đất nước ta có 250 di tích thờ nữ thần, trong đó có 75 vị nữ thần được nhân dân thờ cúng.

Mây, mưa, sấm, chớp là những lực lượng thiên nhiên có nhiều tác động quyết định đến mùa màng, đến công việc trồng cấy của người Việt. Hệ thống tín ngưỡng tứ pháp (ở vùng Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh) gắn với sự tích Man Nương lưu truyền từ thế kỷ II, được nhiều tư liệu cổ ghi chép (Lĩnh nam chích quái; Kiến văn tiểu lục; Văn hiến thông khảo; An nam chí lược…) Đây là một tín ngưỡng bản địa kết hợp với Phật giáo nhập ngoại từ Ấn Độ. Tượng  Pháp Vân thờ tại chùa Dâu; Tượng Pháp Vũ thờ tại chùa Bà Đậu; Tượng Pháp Lôi thờ tại chùa Bà Tướng; Tượng Pháp Điện thờ tại chùa Bà Giàn. Các ngôi chùa Dâu, Đậu, Giàn, Tướng đều quay hướng tây, chầu về chùa tổ. Thoạt tiên Phật tứ pháp chỉ có tại các ngôi chùa Dâu, Đậu, Giàn, Tướng tại Luy Lâu, những các thế kỷ sau đã phát triển sang nhiều các ngôi chùa tại Hà Nội, Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Nam Định…Hệ thống tứ pháp cho chúng ta thấy văn hóa bản địa đã thấm sâu vào văn hóa Phật giáo. Người Việt đã kết hợp tín ngưỡng thờ thần tự nhiên và thờ Mẫu để tạo ra những vị Phật riêng của mình.

Nhiều dân tộc trên thế giới quan niệm con người gồm có hai phần, phần xác và phần hồn. Khi con người chết đi thì phần xác bị tiêu hủy, nhưng phần hồn tồn tại mãi mãi. Đó là cơ sở để cho tín ngưỡng thờ cúng người đã mất duy trì và tồn tại. Niềm tin ấy còn thể hiện lòng biết ơn những người có công sinh thành ra mình, ngoài ra còn cầu mong sự phù hộ độ trì, sự giúp đỡ của người đã chết đối với người đang sống, điều đó tạo nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

 Dân ta từ xưa đến nay vẫn luôn tâm niệm: Chim có tổ, người có tông, cây có rễ, nước có nguồn,  thực chất đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt…Trong mỗi gia đình người Việt đều có một bàn thờ tổ tiên được dựng lên nơi trang trọng nhất trong ngôi nhà, cho thấy lòng biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà và các thế hệ tổ tiên. Trong mỗi làng xóm lại có một ngôi đình để thờ Thành hoàng làng, là một người có công với dân làng, với đất nước. Một ngôi miếu thiêng hay một ngôi đền được xây dựng dưới gốc đa, gốc đề, gốc gạo ở đầu làng là thể hiện sự biết ơn của những người đã và đang sống tại nơi đó, muốn để tâm gìn giữ điều thiêng liêng cho cộng đồng, nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên nơi mình đang sống.

Hỡi ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba, đó là sự tri ân của con cháu đối với tổ tiên, cội nguồn của dân tộc.  Một nghĩa trang liệt sỹ, một đài tưởng niệm được dựng lên để ghi công những người đã hy sinh vì nước, vì dân cho dân tộc có được ngày hôm nay cũng là ước mong của con người đương đại nhớ ơn đến các bậc các anh hùng liệt sỹ…Một võ miếu, văn miếu, một nhà thờ họ được dựng lên cho con cháu đời sau giữ gìn noi theo và tỏa sáng là thể hiện lòng biết ơn của những con người đang sống đối với tiền nhân, đó chính là tín ngưỡng thờ cúng, một nét đẹp trong đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Việt Nam.

 Họa sỹ – Thạc sỹ: Đỗ Hữu Bảng