Bảo vật Quốc gia 12 bia Tiến sĩ tại Văn miếu Bắc Ninh

Theo thư tịch cổ và các công trình nghiên cứu cho biết: Văn miếu Bắc Ninh được khởi dựng từ thời Lê Sơ ở sườn phía Tây Bắc núi Châu Sơn thuộc địa phận xã Thị Cầu, trấn Kinh Bắc xưa. Căn cứ nội dung tấm bia đá “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” dựng vào ngày tốt, tháng trọng Xuân (tháng 2), năm Nhâm Tý, niên hiệu Duy Tân thứ 6 (1912) hiện lưu giữ tại Văn miếu Bắc Ninh cho biết: “Văn miếu Bắc Ninh ở phía Đông Bắc tỉnh thành thuộc sơn phận xã Thị Cầu huyện Võ Giàng được tu bổ vào năm Gia Long thứ nhất (1802), làm lại năm Thiệu Trị thứ 4 (1844). Năm Quý Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893) chuyển về núi Phúc Đức, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng” hiện nay thuộc phường Võ Cường, tỉnh Bắc Ninh. Văn miếu vốn là nơi phụng thờ Chu Công, Khổng Tử là những người khởi lập đạo Nho (Nho học) được tôn vinh là “Thánh sư” hay “Vạn thế sư biểu” và Tứ phối các chư hiền của đạo Nho là (Nhan Hồi, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử). Đồng thời đây cũng là nơi vinh danh tên tuổi các nhà khoa bảng của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc đóng góp nhiều công lao với dân với nước dưới các triều đại phong kiến Việt Nam.

Trải trường kỳ lịch sử, Văn miếu Bắc Ninh được trùng tu, tôn tạo, mở rộng nhiều lần với quy mô lớn dưới triều Nguyễn vào các năm 1802, 1844, 1896, 1912, 1928. Theo nội dung tấm bia bình phong “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bi ký” (Bia ghi việc trùng tu Văn miếu Bắc Ninh), đặt giữa sân trước cửa Tiền tế dựng khắc vào tháng trọng Đông, năm Mậu Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 3 cho biết: Văn miếu Bắc Ninh được tu sửa, tôn tạo lớn vào năm 1928 “Đến tháng ấy người giữ quyền phụ trách công việc là ông Án sát sứ Bùi Phát Tường lãnh đạo các con em nhà nghề cùng nhau trổ hết tài năng khéo léo nhất tiến hành, trăm việc đều được nghiên cứu chu đáo. Thế là lần lượt các công trình được mọc lên, điện cao gác uốn, hành lang lượn, tường thấp xây gạch bao quanh tất thảy có 11 toà thật trang nghiêm, đẹp đẽ”.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Văn miếu Bắc Ninh bị phá huỷ nặng nề, hệ thống bia đá bị vùi dập, thất tán. Sau ngày hoà bình lập lại, Văn miếu Bắc Ninh được tu sửa, đến những năm cuối của thế kỷ XX chỉ còn các công trình Tiền tế, Hậu cung, 2 tòa Tả vu, Hữu vu. Sau đó Văn miếu Bắc Ninh tiếp tục được phục dựng toàn bộ các công trình hoàn hảo như xưa vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Công trình kiến trúc Văn miếu Bắc Ninh hiện nay gồm các hạng mục: cổng Nghi môn, Tiền tế, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà Bi đình…Công trình kiến trúc chính có mặt bằng tổng thể kiểu chữ công gồm tòa Tiền tế 5 gian 2 dĩ, ống muống 1 gian nối với tòa Hậu đường 5 gian, Hai bên hồi tòa Hậu đường là 2 tòa nhà Bi đình 5 gian, 2 dĩ. Phía trước tòa Tiền tế là 2 dãy nhà Tả vu, Hữu vu mỗi tòa 3 gian, tại sân chính giữa cổng Nghi môn và tòa Tiền tế dựng bia Bình phong. Toàn bộ khung chịu lực của các hạng mục kiến trúc đều được làm bằng gỗ lim, nghệ thuật trang trí chạm khắc truyền thống, đề tài “tứ linh, “tứ quý”, hoa lá cách điệu, vân mây, đao mác…

Hiện nay, tại Văn miếu Bắc Ninh còn bảo lưu được 15 tấm bia đá có niên đại tạo tác vào thời Nguyễn, đây là nguồn tư liệu Hán Nôm đặc biệt giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học cho biết thông tin chính xác về quá trình xây dựng và trùng tu tôn tạo, thời gian di chuyển Văn miếu Bắc Ninh về vị trí hiện tại. Nội dung văn bia còn cung cấp thông tin về khoa danh, chức tước của gần 700 vị đỗ đại khoa của xứ Bắc Ninh - Kinh Bắc xưa. Trong đó có 3 văn bia ghi chép lại việc trùng tu, sửa chữa Văn miếu, gồm: Bia “Bắc Ninh tỉnh quan viên cung tiến” khắc dựng năm Thành Thái thứ 8, tháng 7, ngày 15 (1896) ghi chép lại số ruộng do các quan viên tỉnh Bắc Ninh cung tiến, tiền của vào Văn miếu để làm tư điền phục vụ cho việc tế lễ hàng năm. Bia “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” khắc dựng năm Duy Tân thứ 6 (1912) ghi chép về việc di chuyển Văn miếu từ sơn phận Thị Cầu về núi Phúc Sơn (Phúc Đức). Bia bình phong “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bi ký” dựng năm Bảo Đại thứ 3 (1928) có kích thước lớn (270cm x 320cm) ghi chép việc trùng tu tôn tạo Văn miếu vào năm này.

 

Bia Kim bảng lưu phương lưu danh đầy đủ họ tên, chức tước, học hàm, học vị của các vị đại khoa quê hương Kinh Bắc

Đặc biệt giá trị hơn cả là 12 tấm bia “Kim bảng lưu phương” (Danh thơm lưu lại bảng vàng) dựng năm Kỷ Sửu niên đại Thành Thái tháng 10 (năm 1889), dựng tại hai nhà Bi đình. Nội dung 12 tấm bia ghi chép về khoa thi, họ tên, quê quán, học vị và chức tước của các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ của xứ Kinh Bắc xưa. 12 tấm bia này có kích thước như nhau (cao 110cm, rộng 75cm, dày 9cm). Bia dẹt 1 mặt khắc chữ, trán bia cong chạm họa tiết lưỡng long chầu nguyệt và hình mây cuốn, diềm bia trang trí họa tiết hoa cúc dây. Trán bia khắc kiểu chữ hành thư, khắc nổi, to, đẹp: Kim bảng lưu phương. Bên cạnh tên bia có 2 dòng chữ nhỏ khắc chìm, bên phải là chữ" Thành Thái Kỷ Sửu" bên trái "Thập nguyệt cung khắc" cho biết thời gian khắc bia là tháng 10 năm 1896. Trừ tấm bia ghi tên Tiến sĩ thời Lý, Trần, Hồ, và Lê Sơ đã bị cụt đầu và sứt mẻ nhiều chữ, làm đôi chỗ câu văn không đủ ý, toàn văn chữ Hán không xen chữ Nôm thì đa số bia Tiến sĩ còn khá nguyên vẹn, chữ còn rõ nét, dễ đọc. Theo lịch trình thời gian chúng tôi tạm sắp xếp theo thứ tự như sau:

Bia số 1: Ghi tên quê quán, chức tước 42 Tiến sĩ thời Lý- Trần- Hồ - Lê từ khoa thi Ất Mão niên hiệu Thái Ninh thời Lý đến khoa thi Kỷ Sửu niên hiệu Quang Thuận 10 (1469) đời Lê là 19 khoa thi.

Bia số 2: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472) đến khoa thi Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1490) là 5 khoa thi với 68 Tiến sĩ.

Bia số 3: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) đến khoa thi Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất (1505) là 6 khoa thi với 77 Tiến sĩ.

Bia số 4: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508) đến khoa thi Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) là 7 khoa thi với 65 Tiến sĩ.

Bia số 5: Bia đề danh Tiến sĩ khoa thi Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529) đến khoa thi Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550) là 8 khoa thi với 86 vị tiến sĩ.

Bia số 6: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch 6 (1553) đến khoa thi Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2 (1529) là 14 khoa thi với 78 Tiến sĩ.

Bia số 7: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng 18 (1595) đến khoa thi Quý Mùi niên hiệu Phúc Thái thứ nhất (1643) là 16 khoa thi với 40 Tiến sĩ.

Bia số 8: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Bính Tuất niên hiệu Phúc Thái 4 (1646) đến khoa thi Giáp Tuất niên hiệu Chính Hòa 15 (1694) là 15 khoa thi 49 Tiến sĩ.

Bia số 9: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Chính Hòa thứ 18 (1697) đến khoa thi Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái thứ 8 (1727) là 11 khoa thi với 42 Tiến sĩ.

Bia số 10: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đến khoa thi Đinh Mùi chính khoa niên hiệu Chiêu Thống 1 (1787) là 19 khoa thi với 42 Tiến sĩ.

Bia số 11: Bia đề danh Tiến sĩ từ khoa thi Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh đến khoa thi Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 13 (1901) là 19 khoa thi với 45 tiến sĩ.

Bia số 12: Bia phụ chép tên học vị, quê quán, chức tước 44 nhà khoa bảng người gốc Bắc Ninh nhưng nhập tịch nơi khác.

Căn cứ 12 tấm bia “Kim bảng lưu phương”, chúng ta đã thống kê được đầy đủ số người đỗ đại khoa được khắc tên tại Văn Miếu Bắc Ninh gồm 677 vị từ khoa thi Minh Kinh Bác Học triều Lý 1075 đến khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 13 (1901), trong đó có 17 vị đỗ Phó bảng và 660 vị đỗ đại khoa gồm:

- Số người đỗ Trạng nguyên là 20 vị.

- Số người đỗ Bảng nhãn là 10 vị.

- Số người đỗ Thám hoa là 19 vị.

- Số người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) và số người đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân là 611 vị.

 

 

Nhà bi đình đặt bia Kim bảng lưu phương

12 tấm bia “Kim bảng lưu phương” là hiện vật gốc độc bản, do Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ, giữ chức Đốc học tỉnh Bắc Ninh đã dầy công sưu tầm, đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau để biên soạn. Đây là nguồn tư liệu xác thực, đầy đủ nhất đối với việc nghiên cứu lịch sử khoa cử Kinh Bắc - Bắc Ninh, trong đó có nhiều Tiến sĩ không có tên trong các tài liệu đăng khoa lục hay tại bia Văn miếu Quốc Tử Giám, nhưng lại có tên trong bia Văn miếu Bắc Ninh. 12 bia Văn miếu Bắc Ninh là nguồn tư liệu bổ khuyết đầy đủ nhất về các danh nhân khoa bảng quê hương Kinh Bắc -Bắc Ninh thời Phong kiến. Nội dung văn bia cho biết rõ ngày tháng dựng bia, tên của người soạn văn bia, người dựng bia. Chữ viết trên bia, các hoa văn trang trí cùng phong cách tạo dáng bia đều mang dấu ấn của một thời kỳ lịch sử.

Với giá trị độc đáo kể trên, 12 tấm bia Tiến sĩ được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020. Đây là những trang sử bằng đá xác thực nhất về truyền thống khoa bảng rạng rỡ của quê hương Kinh Bắc - Bắc Ninh./.

Ngày đăng: 15-04-2026
Nguyễn Hồng Minh (Phòng HCTH)

Giờ tham quan

Địa chỉ

Liên kết website