Sưu tập con dấu tại Bảo tàng Bắc Ninh số 2
Con dấu là đại diện pháp lý của tổ chức, cá nhân có giá trị xác nhận các quyền và nghĩa vụ pháp lý được pháp luật công nhận. Con dấu được dùng để đóng vào các văn bản hành chính hay để tượng trưng cho một chức vụ, quyền lực. Con dấu có nhiều loại gồm: dấu cơ quan hành chính nhà nước, dấu doanh nghiệp, dấu đại diện tổ chức, dấu chức danh...
Sưu tập con dấu tại Bảo tàng Bắc Ninh số 2 là loại con dấu pháp lý của cơ quan hành chính nhà nước và con dấu chức danh bao gồm 30 con dấu chia thành các loại sau:
|
STT |
Tên gọi |
Số lượng |
Cách sử dụng |
|
I |
Dấu cơ quan hành chính nhà nước |
|
|
|
1 |
Dấu Xã ủy |
13 |
Là con dấu của cơ quan hành chính cấp cơ sở, chịu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền thực dân phong kiến. Dùng vào các thủ tục hành chính như xác nhận, sao in các văn bản của các xã những năm đầu thế kỷ XX. |
|
2 |
Dấu Tổng ủy |
02 |
Là con dấu của cơ quan hành chính cấp cơ sở, chịu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền thực dân phong kiến. Dùng vào các thủ tục hành chính như xác nhận, sao in các văn bản của các tổng những năm đầu thế kỷ XX. |
|
3 |
Dấu Hội đồng hương chính |
03 |
Là con dấu hành chính cấp cơ sở. Dùng vào các thủ tục hành chính về thuế, an ninh và tư pháp của Hội đồng hương chính của làng (còn gọi là Hội đồng tộc biểu). Hội đồng hương chính được thành lập dưới thời Pháp thuộc vào đầu thế kỷ XX. |
|
4 |
Dấu UBHC xã |
02 |
Là con dấu của cơ quan hành chính cấp cơ sở, sử dụng để đóng dấu các tài liệu, văn bản, giấy tờ của xã từ sau năm 1945. |
|
5 |
Dấu BCH Chi đoàn xã |
01 |
Là con dấu của tổ chức đoàn thể, sử dụng để đóng dấu các tài liệu, văn bản của BCH Chi đoàn xã từ sau năm 1945. |
|
6 |
Dấu của Ban bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp |
01 |
Là con dấu dùng để đóng dấu vào các mẫu phiếu khi cử tri đi bầu cử xác nhận cử tri đã đi bầu cử hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2016 - 2021. |
|
II |
Dấu chức danh |
|
|
|
1 |
Dấu Xã trưởng |
01 |
Là con dấu của Xã trưởng - người đứng đầu Hội đồng hương chính của xã, là chức quan cùng đinh trong bộ máy chính quyền phong kiến không được bổ nhiệm và hưởng bổng lộc của triều đình, chức vị này được dân làng bầu ra để thay mặt dân quản lý việc chung của làng. Nhiệm vụ chính của xã trưởng là phụ trách quản lý sổ sách, hương ước, đinh điền, thu kiểm sưu thuế, đốc thúc việc đê điều, đường sá. |
|
2 |
Dấu Hộ lại |
04 |
Là con dấu của một chức dịch trong bộ máy chính quyền làng xã dùng xác nhận các loại giấy tờ liên quan đến tài chính, thuế khóa và quản lý dân cư (hộ tịch) tại cấp xã những năm đầu thế kỷ XX. |
|
3 |
Dấu Chánh quản trị |
01 |
Là con dấu của một chức dịch trong bộ máy chính quyền làng xã chịu trách nhiệm quản lý, vận hành cơ sở vật chất, tài sản, văn thư, lưu trữ và thực hiện các quyết định của Hội đồng hương chính xã những năm đầu thế kỷ XX. |
|
4 |
Dấu Chưởng bạ |
01 |
Là con dấu của một chức danh trong bộ máy chính quyền làng xã chịu trách nhiệm trông coi sổ sách ruộng đất, địa bạ, thuế má và giải quyết các giấy tờ liên quan đến mua bán, chuyển nhượng ruộng đất trong làng vào những năm đầu thế kỷ XX. |
|
5 |
Dấu Tiên chỉ |
01 |
Là con dấu của Tiên chỉ - người đứng đầu Hội đồng kỳ mục, giữ ngôi thứ cao nhất trong làng xã Việt Nam thời phong kiến (trước khi thực dân Pháp tiến hành cải lương hương chính ở các làng xã). Tiên chỉ thường được dân làng tôn trọng, bầu chọn vì uy tín, tuổi tác hoặc học vị. Tiên chỉ chủ trì các công việc quan trọng như tế lễ tại đình, quản lý văn hóa và hương ẩm. |
Trong đó đáng chú ý là 26 con dấu của bộ máy chính quyền phong kiến cấp tổng, xã và con dấu chức danh ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (chủ yếu là các xã, tổng thuộc huyện Tiên Du cũ) thời Pháp thuộc (từ khi thực dân Pháp xâm lược đến Cách mạng tháng Tám năm 1945). Thời kỳ này, chính quyền thực dân Pháp đã tăng cường củng cố bộ máy hành chính cấp xã, tổng để quản lý thuế, lao dịch… phục vụ cho mục đích cai trị của chúng. Những con dấu thường khắc bằng đồng hoặc gỗ, đóng mực đỏ hoặc đen. Dấu thường có hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình elip,… có núm cầm, mặt lưng dấu có thể khắc chữ “Thượng” (上) để chỉ chiều đóng đúng. Viền ngoài mặt dấu khắc chữ viết tắt bằng tiếng Pháp và Quốc ngữ ghi tên địa danh xã, tổng, huyện/quận, tỉnh. Ở chính giữa khắc chữ cơ quan hành chính cấp xã, tổng hoặc chức danh của người phụ trách công việc chuyên môn.
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945), việc khắc và ban hành con dấu (ấn triện) tại Việt Nam được quản lý chặt chẽ, chia theo bộ máy chính quyền thuộc địa (Pháp) và bộ máy quan lại bản xứ (triều đình nhà Nguyễn). Các con dấu của bộ máy chính quyền phong kiến cấp tổng, xã thể hiện quyền lực, danh hiệu và sự giám sát của Pháp. Cơ quan Pháp trực tiếp khắc và quản lý đối với các loại con dấu hành chính quan trọng, đặc biệt tại các vùng thuộc địa và các cơ quan trung ương. Tòa Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ có quyền ban hành các sắc lệnh, nghị định và quản lý con dấu của các cơ quan bản xứ dưới quyền. Nha Nội chính/ Sở Hành chính được thành lập để quản lý các công việc hành chính, tư pháp, bao gồm cả việc cấp phát và kiểm soát ấn tín. Cơ quan Quốc khố/ Sở Lục bộ Quản lý các loại con dấu chuyên dụng cho các hoạt động tài chính, thuế vụ, tư pháp.
Về bộ máy hành chính Việt Nam thời Pháp thuộc (1884 - 1945): Việt Nam được chia thành 3 kỳ với chế độ cai trị riêng biệt: Nam Kỳ (thuộc địa), Bắc Kỳ và Trung Kỳ (bảo hộ). Đứng đầu là Toàn quyền Đông Dương, phía dưới là hệ thống quan lại người Pháp nắm quyền chủ chốt, kết hợp với bộ máy quan lại nhà Nguyễn tay sai. Cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước gồm:
Cấp Trung ương: Toàn quyền Đông Dương là cơ quan quyền lực cao nhất, tập trung mọi quyền hành. Cơ quan giúp việc là Phủ Toàn quyền, Hội đồng Tối cao Đông Dương, Viện Dân biểu, Hội đồng quản hạt (chỉ mang tính hình thức).
Ở Ba kỳ: Nam Kỳ (thuộc địa) do Thống đốc Nam Kỳ đứng đầu. Bắc Kỳ (nửa bảo hộ) do Thống sứ Bắc Kỳ nắm quyền, vẫn duy trì quan lại phong kiến nhưng không có thực lực. Trung Kỳ (bảo hộ) do Khâm sứ Trung Kỳ đứng đầu, vua và triều đình Huế tồn tại hình thức, chỉ là công cụ che mắt.
Ở địa phương: cấp tỉnh do Công sứ, Đốc lý (người Pháp) cai trị; Tổng đốc, Tuần phủ (quan Nam triều) chỉ làm trung gian. Cấp huyện, phủ, châu: Tri phủ, Tri huyện, Tri châu. Cấp xã: Lý trưởng, Chánh tổng.
Về cách thức tổ chức và thẩm quyền của các thiết chế quản lý làng xã. Từ thế kỷ XIX, cơ quan quyết nghị làng xã là Hội đồng kỳ mục làng xã, đứng đầu là Tiên chỉ. Hội đồng kỳ mục là cơ quan quyết định mọi việc quan trọng trong làng xã như quân cấp điền thổ, tổ chức và tiến hành đấu giá, cho thuê tài sản của làng; phân bổ sưu thuế; hòa giải, phân xử các vụ tranh chấp trong nội bộ làng xã; chỉ đạo, giám sát chặt chẽ hoạt động của bộ máy chức dịch; tham gia xây dựng hương ước của làng xã. Bên cạnh đó, cơ quan này còn đại diện cho làng xã các các quan hệ với cấp trên. Cơ quan chấp hành hay còn gọi tên là bộ máy chức dịch. Khi thực dân Pháp tiến hành cải lương hương chính làng xã đổi thành Hội đồng hương chính, đứng đầu là Xã trưởng/ Lý trưởng chịu cách trách nhiệm như trên.
Sưu tập con dấu lưu trữ tại Bảo tàng Bắc Ninh số 2 là những hiện vật có giá trị lịch sử văn hóa, phản ánh một giai đoạn lịch sử của xã hội Việt Nam nói chung và của tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Thông qua bộ sưu tập con dấu giúp chúng ta biết được hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở ở các địa phương tỉnh Bắc Ninh thời phong kiến cũng như sự biến đổi của làng xã Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, góp phần to lớn vào việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay.
Phan Thị An Ngọc (Phòng Bảo tàng)
Các bài viết khác
Những hiện vật quý của đồng chí Ngô Gia Tự 25-11-2025
Chiếc hòm gỗ của Chi bộ Cộng sản đầu tiên 29-10-2025
LỌ ĐỘC BÌNH 11-07-2025
Bệ đá giã cói làng Quế Ổ, xã Chi Lăng 08-07-2025
Chiếc áo thấm hai dòng máu 03-07-2025
Đầu ngói ống thời Hán tại Thành cổ Luy Lâu 02-07-2025
Bia Văn chỉ xã La Miệt 26-06-2025
Đôi Sấu đá đình làng Tỳ Điện 26-06-2025
Ngọn tháp 26-06-2025
Văn bia “Khai Nghiêm bi ký” (HVPC) 26-06-2025