CÁC DI TÍCH VĂN MIẾU, VĂN CHỈ GHI DANH CÁC VỊ KHOA BẢNG TỈNH BẮC NINH
Bắc Ninh - Kinh Bắc xưa là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử và văn hiến. Nơi đây còn có vị trí địa lý thuận lợi, là ở cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống hiếu học khoa bảng đã sản sinh nhiều bậc nhân tài cho đất nước. Sách“Lịch triều hiến chương loại chí” của nhà sử học Phan Huy Chú viết vào đầu thời Nguyễn (thế kỷ XIX), ghi về địa thế núi sông hùng vĩ của xứ Kinh Bắc như sau: “Kinh Bắc có mạch núi cao chót vót, nhiều sông núi vòng quanh, là mạn trên của nước ta…Mạch đất tụ vào đấy, càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp, tinh hoa họp vào đấy, nên sinh ra nhiều danh thần, vì là khí hồn trọng ở phương Bắc phát ra nên khác với mọi nơi”.
Trong gần 1000 năm khoa cử phong kiến Việt Nam, Kinh Bắc - Bắc Ninh đứng đầu các địa phương trong cả nước về số người đỗ đại khoa với gần 700 Tiến sĩ, trạng nguyên, chiếm 1/3 Tiến sĩ và trạng nguyên trên cả nước. Nhiều làng xã, dòng họ đã coi trọng truyền thống hiếu học, khoa bảng, trọng hiền tài. Hầu hết các phủ, huyện, tổng, xã quan tâm xây dựng Văn miếu, Văn chỉ, Từ chỉ, khắc bia ghi danh những bậc đại khoa, để lưu danh các Tiến sĩ, Trạng nguyên, Bảng nhãn của địa phương nhằm gìn giữ văn hóa khoa bảng của cha ông, giáo dục truyền thống hiếu học cho các thế hệ mai sau, cụ thể như:
+ Văn Miếu Bắc Ninh: được xây dựng từ rất sớm, trên sơn phận Thị Cầu, thuộc huyện Võ Giàng. Năm 1802, vào thời vua Gia Long, Văn Miếu được trùng tu lần thứ nhất; Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) xây dựng lại. Đến năm Quý Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893), quan đốc học Đỗ Trọng Vĩ đã cho chuyển Văn Miếu về xây dựng lại trên núi Phúc Đức, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, thuộc phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh ngày nay. Theo nội dung tấm bia “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” dựng vào năm Bảo Đại thứ 3 (1928), Văn Miếu Bắc Ninh được trùng tu tôn tạo lớn. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), Văn Miếu Bắc Ninh bị phá hủy nặng nề, hệ thống bia đá bị vùi dập, đồ thờ tự thất tán, hư hỏng. Sau hòa bình lập lại chính quyền và nhân dân địa phương đã tu sửa lại Văn Miếu, lần gần đây nhất năm 2000-2002 UBND tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt dự án đầu tư, xây dựng, trùng tu tôn tạo di tích Văn Miếu với quy mô lớn, gồm các hạng mục: Cổng Tam môn, Tiền tế, Hậu đường, nhà Bi đình, Tả vu, Hữu vu, sân vườn… Hiện nay Văn Miếu còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật như: bia đá, tượng thờ, ngai, bài vị, hoành phi, câu đối, đặc biệt là hệ thống 12 bia đá “Kim bảng lưu phương” ghi khắc gần 700 vị đại khoa vùng Kinh Bắc. Với những giá trị tiêu biểu về truyền thống khoa bảng, năm 1988, Bộ Văn hoá thông tin đã xếp hạng Văn Miếu là di tích cấp Quốc gia. Nhằm bảo tồn di sản văn hóa, 12 tấm bia “Kim bảng lưu phương” đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào năm 2020.
.jpg)
Văn Miếu Bắc Ninh, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh
+ Văn miếu huyện Đông Ngàn: xưa được xây dựng tại xã Hà Khê, thuộc tổng Hà Lỗ, nay là thôn Hà Khê, xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, là công trình được xây dựng từ thời Nguyễn, bị phá hủy hoàn toàn trong kháng chiến chống Pháp. Hiện vật, đồ thờ tự đã bị thất lạc, đến nay còn lại một số hiện vật đá.
+ Văn chỉ huyện Võ Giàng: xưa được xây lộ thiên, xung quanh tường gạch có một cổng ra vào, bên trong xây các bệ thờ đặt đồ thờ tự, hai bên dựng bia đá, nội dung ghi chép về họ tên, học vị của các vị đại khoa huyện Võ Giàng. Trong kháng chiến chống Pháp văn chỉ bị phá hủy hoàn toàn. Hiện nay còn 1 tấm bia đá ghi danh các vị đỗ đại khoa của huyện Võ Giàng được gia tộc họ Nguyễn đưa về dựng tại nhà thờ.
+ Văn từ huyện Gia Bình: được xây dựng vào thời Lê, ở xã Thường Vũ, thuộc tổng Bình Ngô, huyện Gia Định, phủ Thuận An, nay thuộc xã An Bình, huyện Thuận Thành. Đây là công trình tôn thờ, vinh danh các vị đại khoa, cử nhân, tú tài của huyện Gia Bình. Văn chỉ bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp, các di vật hiện vật đã bị mất.
+ Văn từ huyện Lương Tài: Theo các tư liệu lưu trữ văn từ được khởi dựng từ thời Lê tại xã Quảng Nạp, tổng Quảng Bố, huyện Lương Tài, phủ Thuận An, nay là thôn Quảng Nạp, xã Quảng Phú, huyện Lương Tài. Năm 1947 văn từ bị phá hủy hoàn toàn, các tài liệu hiện vật không còn. Hiện nay tại Viện Hán nôm còn lưu giữ được 3 thác bản văn bia liên quan đến người được thờ tại Văn từ.
+ Văn chỉ huyện Tiên Du: được xây dựng vào thời Nguyễn ở chân núi thuộc thôn Đông, xã Đồng Lượng, tổng Đông Sơn, huyện Tiên Du. Nay thuộc thôn Đông, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du. Văn chỉ hiện không còn, hiện vật duy nhất còn lại là tấm bia đá dựng năm Tự Đức 20 (1867), nay được lưu giữ tại đình thôn Đông, xã Hoàn Sơn, nội dung tấm bia ghi chép việc xây dựng văn chỉ, ghi danh các vị đại khoa của huyện, những quy định về việc tế lễ ở Văn chỉ.
+ Từ chỉ huyện Yên Phong: xưa được xây dựng ở xã Yên Phụ. Văn từ hiện không còn, tư liệu duy nhất là tấm bia “Hoàng triều Minh Mệnh thập bát niên tứ nguyệt nhật Yên Phong văn phái bi ký” (tạm dịch: Bài ký bia Yên Phong văn phái dựng ngày tốt tháng 4 năm Minh Mệnh 18 (1837), ở Bảo tàng Bắc Ninh, ghi khắc họ tên khoa danh 41 vị đại khoa của huyện, từ người đỗ đầu của huyện là Chu Xa (đỗ năm 1433) đến người đỗ cuối cùng là tiến sĩ Lê Duy Đản (đỗ năm 1775).
+ Văn từ huyện Quế Dương: xây dựng từ thời Nguyễn tại xã Bồng Lai, tổng Bồng Lai, huyện Quế Dương nay là thôn Bồng Lai, phường Bồng Lai, thị xã Quế Võ. Trong kháng chiến chống Pháp văn từ bị phá hủy hoàn toàn. Hiện vật còn lại đến nay là tấm bia đá “Quế Dương Văn từ bi ký” niên đại Tự Đức thứ 36 (1883) ghi danh các vị khoa bảng của huyện Quế Dương và việc xây dựng, tu bổ Văn từ thời điểm bấy giờ.
+ Văn từ huyện Siêu Loại: được khởi dựng từ thời Lê tại thôn Cẩm Tú, xã Xuân Tú sau đổi thành thôn Tú Pháp, tổng Đông Hồ, huyện Siêu Loại, đến cuối thế kỷ XIX Văn từ được di chuyển về xã Dương Xá, tổng Đông Quang, nay thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Sau đó Văn chỉ được quan đốc học Đỗ Trọng Vỹ hưng công tôn tạo. Đến khoảng năm 1960 thì xuống cấp, hư hại, các hiện vật đã bị thất lạc.
+ Văn chỉ xã Ngọc Quan: xưa thuộc tổng Lâm Thao, huyện Lương Tài. Đây là khu văn chỉ lộ thiên kiến trúc đơn giản, trong xây hệ thống bệ thờ, phía trước là bức bình phong, tường bao quanh. Di tích bảo lưu được 7 tấm bia đá, đặt trên 7 bệ thờ. Bệ chính giữa đặt tấm bia có niên đại Thiệu Trị 3 (1844) ghi chép về Tiến sĩ Vũ Miễn, 6 bia đá còn lại có kích thước nhỏ hơn được dựng 2 bên, khắc ghi về Phó bảng Vũ Giác, và 44 cử nhân, tú tài của quê hương. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hóa, Văn chỉ Ngọc Quan được UBND tỉnh công nhận di tích lịch sử văn hóa năm 2007.
.jpg)
Hương Hiền từ, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn
+ Văn chỉ Hương Hiền Từ: phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn là nơi thờ tự các vị tiên hiền tiên nho của làng Phù Lưu. Năm Bảo Đại thứ 8 (1933) Tuần phủ Hoàng Thúy Chi cùng với việc hưng công trùng tu đình, chùa làng đã cho sửa chữa và tôn tạo lại thành “Hương hiền từ”, lúc này văn chỉ không chỉ thờ các vị đỗ đại khoa, mà thờ cả các vị có công với dân làng vào thờ tại đây. Từ đó văn chỉ đổi tên thành Hương Hiền từ. Hiện di tích bảo lưu được hệ thống bia đá cổ, ghi công trạng của những vị quan văn, quan võ có công với dân làng Phù Lưu. Với những giá trị tiêu biểu, năm 2013 Văn chỉ Hương Hiền từ đã được UBND tỉnh Bắc Ninh xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
+ Văn chỉ họ Phạm làng Kim Đôi: phường Kim Chân, thành phố Bắc Ninh. Văn chỉ được xây dựng vào thời Nguyễn theo kiểu lộ thiên, bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp, sau đó nhân dân và dòng họ đã xây dựng lại theo kiến trúc truyền thống. Năm 2020 văn chỉ được trùng tu tôn tạo như ngày nay. Văn chỉ còn lưu giữ được 1 số hiện vật có giá trị, trong đó có 2 tấm bia đá có niên hiệu Cảnh Hưng 43 (1782); Bia thứ nhất là khắc 2 chữ “gia phả” nội dung ghi chép về các đời, thế thứ của dòng họ, bia thứ 2 “Kỵ tinh mộ ký” nội dung ghi chép các ngày kỵ nhật mộ chí của tổ tiên, liệt tổ, các danh nhân của họ Phạm ở Kim Đôi. Với những giá trị tiêu biểu trên Văn chỉ họ Phạm làng Kim Đôi được Bộ VHTT xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1994.
.jpg)
Văn chỉ họ Phạm, phường Kim Chân, thành phố Bắc Ninh
Di tích văn miếu, văn chỉ là nơi ghi danh các vị tiên hiền, tiên triết, danh nhân, khoa bảng của vùng đất Kinh Bắc xưa, Bắc Ninh ngày nay. Đây là những di sản văn hóa quý, chứ đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, là nguồn tư liệu quý giúp chúng ta tìm hiểu về truyền thống khoa bảng, hiếu học của cha ông và là tiền đề cho việc giáo dục truyền thống hiếu học cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Đỗ Thị Hằng (Phòng Hành chính -Tổng hợp)
Các bài viết khác
Chùa Tiêu - Nơi ghi dấu công lao của Vua Lý Công Uẩn 05-12-2025
Trạng nguyên khai khoa đầu tiên của nước ta 29-11-2025
Di tích đình - đền Phú Mẫn xã Yên Phong 28-11-2025
Nguyên phi Ỷ Lan - Người phụ nữ 2 lần thay Vua trị quốc 22-10-2025
Di tích lịch sử - văn hóa chùa làng Đông Sơn 15-10-2025
Chùa Bách Môn - Danh lam cổ tự nổi tiếng 12-10-2025
Chùa Dâu - Ngôi chùa cổ nhất Việt Nam 09-10-2025
Tranh dân gian Đông Hồ - Vẻ đẹp văn hóa cổ truyền xứ Kinh Bắc 30-08-2025
ĐỀN THỜ TIẾT NGHĨA ĐẠI VƯƠNG ĐÀM THẬN HUY 16-07-2025